Điển hình tên mọi rợ Việt cộng!

Điển hình tên mọi rợ Việt cộng!

Ngu ngốc già nua lại bịnh hoạn
Lú có tên trên bảng phong thần
Phản quốc hèn hạ lại ngạo mạn
Là một tên Việt gian ngu đần

Cử nhân văn chương – văn dùi đục
Giáo sư tiến sĩ nhưng ngu ngục
Không biết gì hơn là thờ Tàu
Kẻ thù truyền kiếp không biết nhục

Đó là chân dung Nguyễn Phú Trọng
Điển hình tên mọi rợ Việt cộng!

Nông Dân Nam Bộ

Kết quả hình ảnh cho nguyễn phú trọng photos

Lưu đày

Lưu đày

“Lực bất tùng tâm”
Quỹ thời gian cạn dần
Nợ nần vẫn còn đó
Còn đó nợ Tứ Ân!

Bốn ngàn năm xương máu
Vẫn thay trâu kéo cày
Chỉ một thằng Hồ cáo
Cả dân tộc tôi đòi!

Chết làm sao nhắm mắt?
Vẫn khắc khoải nhớ hoài
Quê hương trong đổ nát
Mang thân phận lưu đày!

Nông Dân Nam Bộ

Trong Cuộc Đời, Điều Gì Mới Là Trân Quý Nhất?

Trong Cuộc Đời, Điều Gì Mới Là Trân Quý Nhất?

Tự Do!

Bốn mươi bốn năm trước
Trốn chạy bọn Mác xít
Vượt biên tìm tự do
Tránh gông cùm xiềng xích

Tự do hay là chết
Tự do là trên hết!

Nông Dân Nam Bộ

Trong Cuộc Đời, Điều Gì Mới Là Trân Quý Nhất?

Một đời này, điều gì là đáng quý nhất? Trong lòng mỗi người chắc hẳn đều có đáp án khác nhau…

Có một chàng trai trẻ ngồi ở ghế đá công viên trong tâm trạng chán nản, không ngừng than vắn thở dài. Ông lão ngồi bên thấy vậy liền hỏi: “Này chàng trai trẻ, có chuyện gì vậy?”.

Cậu ngước lên nhìn ông lão: “Ông ơi, ông thấy cuộc đời điều gì là trân quý nhất?”.

Ông lão cười khẽ, đáp:
“Những lúc không có tiền thì cảm thấy tiền là trân quý nhất. Những lúc không có nhà thì cảm thấy có được căn nhà là thứ trân quý nhất. Những lúc ốm đau bệnh tật thì cảm thấy sức khỏe là thứ trân quý nhất. Những lúc chia xa thì cảm thấy được ở bên nhau là trân quý nhất!

Con người thường không bao giờ hiểu được rằng rốt cuộc điều gì là trân quý nhất. Nói đó là tiền tài, nhưng có rất nhiều thứ mà bao nhiêu tiền cũng không mua được. Nói đó là nhà cao cửa rộng, nhưng một khi nhắm mắt xuôi tay thì cũng phải bỏ lại hết thảy, không mang theo được gì. Cho nên, những điều trân quý thì thường là vô giá, không thể dùng giá trị mà đo lường được.

Trong cuộc đời này, điều gì là trân quý nhất? Thân thể khỏe mạnh là điều trân quý nhất. Tình cảm thật lòng là trân quý nhất. Có người thân bạn bè bên cạnh, ấy là trân quý nhất. Được sống những tháng ngày vui vẻ thảnh thơi, ấy là trân quý nhất… Bởi vậy, hỡi chàng trai trẻ, hãy cố gắng lên nhé!”.

Một đời này, điều gì là đáng quý nhất? Trong lòng mỗi người chắc hẳn đều có đáp án khác nhau, cũng giống như bạn cảm thấy màu gì đẹp nhất, loài hoa nào đẹp nhất vậy. Đáp án của mỗi một người đều không như nhau.

Nhưng dưới tình huống đặc biệt, thì đại đa số chúng ta đều có chung đáp án, ví như với người sắp chết khát trong sa mạc thì không có gì quý hơn nước uống, với người sắp chết đói thì thứ trân quý nhất không phải tài sản, mà là thức ăn.

Trước mắt bạn cần gì, thì thứ đó sẽ là điều trân quý trong đời bạn. Nhưng vì thứ cần thiết trong mỗi một giai đoạn của đời người thường không giống nhau, vậy nên điều mà ta vốn cho là tốt nhất, thì đến một giai đoạn nào đó điều ấy cũng không còn “tốt nhất” như lúc ban đầu.

Đời người không cần phải cứ mải mê theo đuổi “thứ gì trân quý nhất”, vốn là những thứ quá hư ảo. Bởi khi tâm ta thay đổi, mọi thứ cũng sẽ theo đó mà đổi thay theo.

Duy chỉ có điều được nói ở trên: thân thể khỏe mạnh, tình cảm chân thành mới là thứ tốt nhất không bao giờ thay đổi trong suốt cuộc đời. Vậy nên hãy trân quý những người thật lòng quan tâm đến bạn, cũng như trân quý mỗi một ngày bình an vui vẻ được sống trên cõi đời này.

Thuận An

Thơ ngây ấu trĩ nghe mầy

Thơ ngây ấu trĩ nghe mầy

Thơ ngây ấu trĩ nghe mầy
Lầm than nghèo đói héo gầy dân tao
Hoang tưởng mầy theo Tàu Mao
Đè đầu cỡi cổ đồng bào Việt Nam

Gông cùm xiềng xích dã man
Giang san gấm vóc tan hoang vì mầy
Dân tao thống khổ đọa đày
Cũng vì cộng sản nô tài Việt gian

Thác Bản Giốc – Ải Nam Quan
Vô tay bè lũ ngoại bang giặc Tàu
Mồ hôi xương máu đồng bào
Ngàn năm còn đó hận trào hờn căm

Ông cha ta chống ngoại xâm
Mầy đi rước giặc xâm lăng quê mình
Đéo cha bè lũ Ba Đình
Việt gian bán nước súc sinh rợ Hồ!

Nông Dân Nam Bộ

Kết quả hình ảnh cho hồ tặc photos

U mê hoang tưởng đi tôn vinh!

U mê hoang tưởng đi tôn vinh!

Một tên Mác xít – thứ vô lại
Một ông quan lại – thời phong kiến
Một đất nước ta như hôm nay
Vậy đó, cả hai được phong thánh!

Bác của nó – tên Hồ Chí Minh
Một lãnh tụ kiệt xuất tài tình
Cụ của chúng nó – Ngô Tổng Thống
Một minh quân lãnh đạo anh minh!

U mê hoang tưởng đi tôn vinh!

Nhìn Phác Chánh Hy – Lý Quang Diệu
Đưa nước người ta đến quang vinh
Còn ta sao lại quá cường điệu
Không xấu hổ mắc cỡ? – đáng khinh!

Nông Dân Nam Bộ

Bịnh Hoạn

Bịnh Hoạn

Càng về già tôi càng ngộ ra
Dân tộc mình bịnh hoạn xấu xa
Ngoài hoang tưởng vong bản cộng sản
Còn một bịnh nữa cũng thối tha!

Đó là bịnh tôn thờ lãnh tụ
Không cần biết lãnh tụ khôn ngu
Đưa nước ta đến tận cùng địa ngục
Vẫn bất biết như người mộng du!

Bác của nó đỉnh cao trí tuệ
Sẵn sàng đốt sạch dãy Trường Sơn
Cụ của nó tự cao tự đại
Sau lưng hiến pháp còn có ông

Đưa dân tộc ta đến bại hoại
Kéo dài trong kiếp sống tôi đòi
Cũng vì bịnh ta đây lãnh tụ
Cả hai cùng giết sạch nhân tài!

Để đất nước ta như hôm nay
Toàn là lũ đầu trâu mặt ngựa
Thờ lãnh tụ vong bản ngoại lai
Và chế độ độc tài mục rửa!

Nông Dân Nam Bộ

Trân Trọng Kính Chuyễn :
Bản Văn : ” Tuyên Cáo Của Nhóm Caravelle Gởi TT Diệm – Nguồn Từ : ” Bách Khoa Toàn Thư ” Posted By Luan Nguyen – via PhungSưXaHoi .
Kính Thưa Chiến sĩ Tự Do : Nữ Sĩ Tuyết Mai Và Qúy Vị :
Kính mời qúy vị đọc bản văn : ” Tuyên Cáo Của Nhóm Caravelle ” : Gởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm: :
Đây được coi mhư một tài liệu xác thực về sự kiện lịch sử (The matters odf fact of historical ) (*) “trong nền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa mà … khi Các Vị Sử Gia – Các Nhà Nghiên Cứu Lịch Sử : Rất cần phải quang minh – chính trực – công tâm khách quan .. mà viết đúng sự thực lịch sử như là việc:” Xem xét nhều khía cạnh vi tế của lịch sử ” : Để viết lịch sử ” … Vì Thế :
Bản Văn Này là : ” Một Di ấn lịch sử ” mà Dân Tộc Việt Nam nện : ” Thuận lãnh di sản ( Acceptance of an estate ) ” này như là : ” Truyền kế di sản ( Devolution of an estate ): vô cùng tốt đẹp … chính xác … trong sáng ….minh triết và qúy báu trong công cuộc : ” Giãi trừ độc tài cộng sản – Quang Phục Quê Huơng Việt Nam ” trong hiện tại và kiến định ….các định chế chánh trị trong mai hậu :
Vậy giá trị đích thực của Bản Văn Này chính là :
Một : ” Di Lưu Pháp Định ( Of inheritance )That must devolve upon the heirs ) ” : Với một tâm nguyện vô cùng trong sáng – minh triết – chính danh …. phù hợp với …. lý tưởng dân quyền – nhơn quyền – độc lập tự do và hạnh phúc ” của nhơn dân Việt Nam …như theo đúng ” ý chí cao cả của ” Tòan Thể Quốc Dân Việt Nam :
Giá trị của văn bản là ” điều hiển nhiên (Evident truth and fact ) ” : mà các thế hệ hiện tại và mai hậu .. cần có :
Chúng ta cân có một người có tài đoàn kết Quốc Gia ( We want a man who can hold the nation together ) ” trong vai trò lãnh đạo mọi người :
Tham gia vào công cuộc cứu quốc và kiến quốc ( to participe in the work of national salvation and reconstruction )
Trân Trọng Kính Chuyễn bản văn đến :
– Các Cơ Quan Ngôn Luận Thế Giới Tự Do : Thay Vì : ” Phúc Trình Danh Bút ( Famous writer )”
– Chánh [hủ Lâm Thời Pháp Định Việt Nam Cộng Hòa : Trân Trọng Kính Trình :
Từ .. : ” Di cảo lịch sử … : ” Văn từ …Bản Văn từ chưởng khế vi bằng ( Instrument up by a notary and in writing )
Đồng kính gởi đến : Qúy ACE / LL /CM / VN :
Kính nhờ phổ biến sâu rộng trên toàn cõi Việt Nam : Đặc biệt Các Chi Bộ Đảng Viên ” đảng đảng cộng sản VN : ” Tài Liệu Chính Huấn Từ Nhơn Dân Việt Nam .

Trân Trọng
Vương Thiên Vũ
( Lão Đưa Đò Trên Dòng Sông Biến Dịch )

(*) Ghi Chú : Trong tinh thần kết hợp các Mặt Trãn Quốc Tế Vận Ỡ Hải Ngoại với các LL/CM/VN cũng như : ” Công việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam :” Và VÌ : ” Với trình độ hiểu biết và khả năng Việt ngữ vô cừng giới hạn của mình – Lão Đưa Đò có ghi thêm phần ngoại ngữ chỉ dành riêng cho : ” Quy Bạn Trẻ …. Thế Hệ 2…3 và mai hậu … : Nếu có đọc bản văn và học Việt Ngữ ….. cũng dễ thông cảm với người xưa .. VTV : ” Kính Cáo “

Nhóm Caravelle
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Nhóm Tự do Tiến bộ, còn được biết với tên gọi Nhóm Caravelle vì nhóm họp báo ra tuyên cáo lần đầu tiên tại Khách sạn Caravelle Sài Gòn vào năm 1960, là một nhóm gồm 18 chính khách thuộc nhiều thuộc nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, chống Cộng và đối lập với chính phủ hiện thời. Trong số họ, có nhiều người đã từng cộng tác với chính quyền Ngô Ðình Diệm, như ông Lê Trọng Luật, Nguyễn Tăng Nguyên, Trần Văn Ðỗ, Hồ Văn Vui v.v…Nhóm chỉ tồn tại trên chính trường Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn đầu 1960 đến hết 1963. Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị đảo chính quân sự lật đổ, nhóm này xem như chấm dứt hoạt động, tuy nhiên, nhiều thành viên cũ của nhóm vẫn có tác động đến chính trường Việt Nam Cộng hòa cho đến khi chính thể này sụp đổ vào năm 1975.
khi chính sự đã ổn định, tổng thống Diệm đã dần trở mặt với các thỏa hiệp ban đầu với những người đã ủng hộ ông và giúp ông giữ được ngôi vị tổng thống. Để đảm bảo vị thế quyền lực của mình, Diệm chủ trương kềm chế các phe phái chính trị đối lập cũng như ảnh hưởng từ phía nước ngoài như Mỹ, Pháp. Các tướng lĩnh như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân…, các chính khách như Trần Văn Hương, Nguyễn Ngọc Thơ, Phan Khắc Sửu…, kể cả nhiều đảng viên cao cấp của đảng Cần Lao như Trần Chánh Thành, Võ Văn Trưng…, lần lượt đều bị xa lánh và tước bỏ ảnh hưởng. Trong nền Đệ nhất Cộng hòa, ngoài tổng thống Diệm, quyền hành bị tập trung vào trong tay một số người thân trong gia đình ông như Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Thục; và một số ít người thân tín như Trần Kim Tuyến, Lê Quang Tung và đảng Cần lao.
Việc quyền hành nhà nước bị chi phối quá nhiều trong tay những người trong gia đình tổng thống Diệm, cộng với sự lộng quyền của một số đảng viên Cần lao và chính sách đàn áp của Chính phủ gây bất mãn trong quần chúng. Ngay chính trong những người đồng chí thuở ban đầu của Diệm cũng cảm thấy bị phản bội và chuyển dần sang thế đối lập với người mà họ đã ủng hộ. Họ liên tục công kích chính sách độc tài chính trị của tổng thống.
Mặt khác, khi những người Cộng sản miền Nam, với sự cho phép của Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, dần xây dựng cơ sở và chuyển hướng đấu tranh từ đơn thuần đấu tranh chính trị sang kết hợp với đấu tranh vũ trang từ cuối năm 1959, sự ổn định của chính phủ Diệm đã trở nên bị lung lay, nhất là khi nổ ra Phong trào Đồng khởi tại Bến Tre và Trận tập kích Tua Hai tại Tây Ninh cuối tháng 1 năm 1960. Trước hàng loạt thất bại về quân sự và chính trị của tổng thống Diệm, các nhóm đối lập ngày càng kích động quần chúng phản đối chính phủ Diệm. Họ buộc tội chính phủ Ngô Đình Diệm thực chất là một chính phủ độc tài và gia đình trị, bất lực trong việc ổn định xã hội và chống Cộng thiếu hiệu quả.
Tuyên cáo Caravelle
Từ những ý kiến trao đổi với một số trí thức đối lập, ba trí thức đối lập là các ông Trần Văn Văn, Trần Văn Hương và Nguyễn Lưu Viên đã thảo một bản tuyên cáo kêu gọi chính quyền nên cải tổ. Sau đó, ông Trần Văn Văn đã đi thuyết phục 15 nhân sĩ khác, thuộc nhiều thuộc nhiều khuynh hướng chính trị, tôn giáo khác nhau, chống Cộng và đối lập với chính phủ, quê quán ở 3 miền, cùng ký tên vào bản tuyên cáo. Ông Trần Văn Văn đề xuất tên gọi nhóm 18 nhân sĩ là nhóm Tự Do Tiến Bộ, gọi tắt là Cấp Tiến, để có danh nghĩa chính thức đối lập hợp hiến với chính quyền. Để đảm bảo an toàn khi ra tuyên cáo, nhóm đã cẩn thận mời đại diện các báo chí Việt Nam họp báo riêng tại một khách sạn ở Chợ Lớn. Các phóng viên nước ngoài và đại diện các tòa đại sứ được báo mời trước nhưng không cho biết trước địa điểm. Sáng ngày 26 tháng 4 năm 1960, hai ông Trần Văn Văn và Phan Khắc Sửu, mặc âu phục chỉnh tề, bất thần đến trước cổng dinh Độc Lập, nhờ quân phòng vệ dinh chuyển bản tuyên cáo đến tổng thống Diệm. Sau đó, các ông trở về khách sạn Caravelle và cùng các thành viên khác tổ chức họp báo tại đây.
Nội dung của bản tuyên cáo chỉ trích quyết liệt các sai lầm của chính quyền về chính trị, hành chính, xã hội và quân sự, gây ra tình trạng bất mãn trong dân chúng, suy thoái của chế độ và làm giảm tiềm lực đấu tranh chống cộng. Tuy nhiên, ngoài việc đòi hỏi thực thi dân chủ và chấm dứt gia đình trị, những đề nghị cải cách tương đối khiêm tốn.
Thành viên
Dưới đây là danh sách 18 thành viên của nhóm Caravelle ký tên trong Tuyên cáo ngày 26 tháng 4 năm 1960 (xếp theo thứ tự ký tên).

Dưới đây là danh sách 18 thành viên của nhóm Caravelle ký tên trong Tuyên cáo ngày 26 tháng 4 năm 1960 (xếp theo thứ tự ký tên).

STT

Tên

Năm sinh

Quê quán

Tôn giáo

Đảng phái

Ghi chú
(tại thời điểm ký tên)

1 Trần Văn Văn 1907 Long Xuyên Tam giáo Đảng Phục Hưng Thạc sĩ Thương mại, cựu Bộ trưởng Kinh tế và Kế hoạch.
2 Phan Khắc Sửu 1905 Cần Thơ Cao Đài Mặt trận Đại đoàn kết Quốc dân Kỹ sư Canh Nông, cựu Bộ trưởng Canh Nông.
3 Trần Văn Hương 1902 Vĩnh Long Tam giáo Đảng Phục Hưng Giáo sư Trung học, cựu Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn.
4 Nguyễn Lưu Viên 1919 Trà Vinh Tam giáo Không đảng phái Bác sĩ Y khoa, cựu Cao ủy Di cư.
5 Huỳnh Kim Hữu chưa rõ (quê quán miền Nam, chưa rõ) Tam giáo Nhóm Tinh thần Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế.
6 Phan Huy Quát 1908 Hà Tĩnh Tam giáo Đảng Đại Việt Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Quốc phòng và Giáo dục.
7 Trần Văn Lý 1901 Quảng Trị Công giáo Liên đoàn Công giáo Việt Nam cựu Thủ hiến Trung phần.
8 Nguyễn Tiến Hỷ chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Bác sĩ Y khoa.
9 Trần Văn Đỗ 1903 Biên Hòa Tam giáo Nhóm Tinh thần Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Ngoại giao.
10 Lê Ngọc Chấn chưa rõ Thanh Hóa Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Luật sư, cựu Bộ trưởng Quốc phòng.
11 Lê Quang Luật chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Công giáo Phong trào Liên hiệp Dân chúng Luật sư, cựu Bộ trưởng Thông tin.
12 Lương Trọng Tường 1904 Biên Hòa Hòa Hảo Đảng Dân Xã Kỹ sư công chánh, cựu Thứ trưởng Kinh tế Quốc gia.
13 Nguyễn Tăng Nguyên 1914 Hà Nội Phật giáo Nhóm Tinh thần Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Lao động và Thanh Niên.
14 Phạm Hữu Chương chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo chưa rõ Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế và Công tác Xã hội.
15 Trần Văn Tuyên 1913 Tuyên Quang Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Luật sư, cựu Bộ trưởng Thông tin và Tuyên truyền.
16 Tạ Chương Phùng chưa rõ Quảng Ngãi Tam giáo Không đảng phái cựu Tỉnh trưởng Bình Định.
17 Trần Lê Chất 1874 (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo Không đảng phái Tiến sĩ Hán học.
18 Hồ Văn Vui 1917 (quê quán miền Nam, chưa rõ) Công giáo Không đảng phái

Linh mục, Chánh xứ họ đạo Tha La, Tây Ninh

Ảnh hưởng chính trị của tuyên cáo
Thực chất, nhóm Tự do Tiến bộ không hẳn là một tổ chức chính trị độc lập mà chỉ là tập hợp các nhân sĩ cùng đưa ra tuyên bố chính trị. Ngoài ảnh hưởng của tuyên cáo, các thành viên của nhóm đã có những ảnh hưởng chính trị riêng của cá nhân hoặc dưới danh nghĩa đảng phái.
Tuy vậy, ảnh hưởng của tuyên cáo làm chấn động chính trường Việt Nam Cộng hòa bấy giờ. Dù rất ôn hòa, nhưng đây là lần đầu tiên, một nhóm chính khách dám ra tuyên cáo chống quyền lực của tổng thống Diệm, bấy giờ đang đạt đỉnh cao.
TUYÊN NGÔN CỦA 18 NHÂN VẬT NHÓM “TỰ DO TIẾN BỘ”
GỞI TỔNG THỐNG VNCH, SÀIGÒN
Thưa Tổng thống,
Chúng tôi ký tên dưới đây, đại diện cho một nhóm đồng bào, nhân vật và trí thức tên tuổi thuộc mọi xu hướng, nhóm những người thiện chí nhận thấy rằng đối diện với sự trầm trọng của tình hình chính trị hiện nay, chúng tôi không thể cứ bàng quan với những thực tế của nước ta.
Vì vậy, chúng tôi chính thức gửi đến Tổng thống hôm nay lời kêu gọi, với mục đích phơi bày với Tổng thống tất cả sự thật trong niềm hy vọng là chính quyền sẽ lưu tâm để gấp rút thay đổi chính sách, hầu cứu vãn tình hình hiện nay để đưa quốc dân ra khỏi cơn nguy biến.
Chúng ta hãy nhìn lại dĩ vãng thời Tổng thống còn ở nước ngoài. Đã 8, 9 năm qua, dân tộc Việt Nam trải qua nhiều thử thách do chiến tranh mang lại; từ sự độ hộ của Pháp đến việc chiếm đóng của Nhật, từ cách mạng cho đến kháng chiến, từ việc Cộng Sản núp sau chiêu bài quốc gia để gạt gẫm cho đến nền độc lập giả tạo che dấu nền thực dân, từ kinh hoàng này đến kinh hoàng khác, hy sinh liên tục – nói tóm lại từ hứa hẹn này đến hứa hẹn khác, cuối cùng cho đến khi niềm hy vọng kết thúc bằng một sự thất vọng chua cay.
Vì vậy, khi Tổng thống sắp sửa hồi hương, toàn dân đã nuôi mối hy vọng là dưới sự lãnh đạo của Tổng thống, toàn dân sẽ lại tìm thấy được nền Hòa bình cần thiết để đem lại ý nghĩa cho cuộc sống, để dựng lại ngôi nhà đã bị phá hủy, để đặt lại được cái cày trên những mảnh đất từng bị bỏ hoang. Nhân dân hy vọng rằng không còn bị bắt buộc buổi sáng hoan hô một chế độ, buổi chiều hoan hô một chế độ khác, không còn là con mồi cho sự tàn bạo và áp lực của một phe phái nào, không còn bị đối xử như cu-li, không còn một nền độc quyền nào thao túng, không còn bị sự cướp bóc của công chức tham nhũng và độc đoán. Nói tóm lại, nhân dân ước mong được sinh sống trong sự an ninh, dưới một thể chế sẽ đem lại cho họ một chút công lý và tự do. Toàn dân nghĩ rằng Tổng thống sẽ là con người của thời thế và sẽ đáp ứng được nguyện vọng của họ.
Lúc Tổng thống mới về nước thì tình trạng quốc gia như thế đó. Hiệp ước Genève năm 1954 chấm dứt cuộc chiến và sự tàn phá của chiến tranh. Quân đội viễn chinh Pháp tuần tự rút đi và nền độc lập cho miền Nam Việt Nam trở thành một sự thật. Ngoài ra, nước nhà còn được sự khích lệ tinh thần và được hưởng sự viện trợ đáng kể của thế giới tự do. Với nhiều yếu tố chính trị thuận lợi như thế thêm vào những điều kiện địa dư may mắn có được đất đai màu mỡ về nông lâm sản và thặng dư về hải sản, đáng lẽ miền Nam Việt Nam đã phải đủ sức để bắt đầu đi đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến đấu với miền Bắc, để có thể thỏa mãn được ý dân và đưa đất nước đến hy vọng, tự do và hạnh phúc. Ngày này, sáu năm sau, sau khi hưởng được nhiều lợi điểm không thể chối cãi đến như thế, Chính phủ đã làm được những gì? Chính phủ đã đưa miền Nam đi về đâu? Những ước vọng tha thiết nào của nhân dân đã được thành tựu?
Chúng ta thử tổng kết tình hình một cách khách quan, không xu nịnh mà cũng không buộc tội sai lầm, theo đúng đường hướng xây dựng mà chính Tổng thống vẫn hay nói đến với ước vọng là Chính phủ sẽ thay đổi chính sách để tự đưa mình ra khỏi một tình trạng hết sức hiểm nghèo cho sự sinh tồn của quốc gia.
VỀ CHÍNH TRỊ
Mặc dù chế độ ngoại lai do thực dân tạo ra và che chở đã bị lật đổ và nhiều phe nhóm từng đàn áp nhân dân đã bị triệt hạ, dân chúng vẫn chưa tìm thấy được một cuộc sống khá hơn hay có nhiều tự do hơn dưới chế độ Cộng Hòa do Tổng thống thành lập. Một hiến pháp đã được lập ra nhưng chỉ có hình thức. Và Quốc hội tuy có đấy nhưng những cuộc thảo luận luôn luôn được diễn ra chỉ theo đường hướng của chính quyền. Và những cuộc bầu cử phản dân chủ. Toàn là những phương pháp và “trò hề” bắt chước các chế độ Cộng Sản độc tài và lẽ tất nhiên là không thể đem ra để so sánh với miền Bắc được.
Những vụ bắt bớ liên tục tiếp diễn làm cho nhà giam và khám đường đầy đến tận nóc như hiện nay đang xảy ra; dư luận quần chúng và báo chí phải câm lặng. Cũng thế, ý dân bị khinh nhục và chà đạp trong những cuộc đầu phiếu (ví dụ trường hợp xảy ra trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 mới đây). Tất cả những điều này đã gây ra sự nản chí và bất mãn của dân chúng.
Các chính đảng và giáo phái đã bị loại bỏ. Thay vào đấy là các “Nhóm” và “Phong trào”. Nhưng sự thay thế này chỉ đem đến những điều áp bức mới cho dân chúng mà không che chở được cho dân chúng của các giáo phái từ trước vẫn là những vùng tử địa của Cộng Sản thì nay không những đã mất hết an ninh (cho người Quốc gia) mà còn trở thành những đại lộ cho du kích Việt Cộng mà tình trạng chung như thế xảy ra khắp nơi.
Đây là chứng cớ cho thấy rằng các giáo phái tuy nhỏ nhoi không đáng kể đã là những thành phần chống Cộng hữu hiệu. Việc triệt hạ các giáo phái đã mở lối cho Việt Cộng và vô tình dọn đường cho kẻ thù, trong khi một chính sách thực tế và uyển chuyển hơn đã có thể liên kết họ về chung thành một khối để tiếp sức cho trận tuyến chống Cộng.
Ngày nay, nhân dân muốn được tự do. Đáng lẽ Tổng thống nên mở rộng chế độ, khuyến khích nền dân chủ, bảo đảm các quyền công dân tối thiểu và công nhận đối lập hầu dân chúng được nói lên tiếng nói của mình mà không sợ hãi để dẹp được sự bất mãn và căm thù, vì đối với dân chúng, thế đối lập là lý do độc nhất cho họ tồn tại. Khi Tổng thống thực hiện xong được những điều này thì nhân dân miền Nam Việt Nam có thế đứng của mình đối với miền Bắc mà nhận ra được giá trị của một nền tự do thật sự và một nền dân chủ chân chính. Chỉ đến lúc đó dân chúng mới sẽ nỗ lực và hy sinh tối đa để bảo vệ sự tự do và nền dân chủ ấy.
VỀ CHÍNH QUYỀN
Lãnh thổ thu hẹp lại, số công chức lại tăng lên mà việc quản trị lại không chạy. Ấy là vì chính quyền giống như Cộng Sản, đã để cho các đoàn thể chính trị (của chính quyền) kiểm soát người dân, tách rời nhóm ưu tư ra khỏi hạ tầng và gieo rắc sự nghi ngờ giữa những kẻ liên hệ với “đoàn thể” và những người “ngoài đoàn thể”. Thực quyền không còn ở trong tay của những người đáng lý có trách nhiệm của “gia đình”, nơi từ đó các mệnh lệnh được truyền ra. Điều này làm cho guồng máy hành chánh bị chậm lại, làm tê liệt mọi sáng kiến và làm nản lòng mọi người có thiện chí. Đồng thời, không một tháng nào trôi qua mà báo chí không đăng đầy những chuyện hối lộ không thể che dấu được, những chuyện này trở thành một chuỗi dài những giao dịch phi pháp hằng triệu bạc.
Guồng máy hành chánh, vốn đã bị đình trệ bây giờ hầu như hoàn toàn trở nên tê liệt. Nền hành chánh cần được cải tổ gấp rút. Những người có khả năng phải được đặt đúng vào những chức vụ từ trên xuống dưới, hệ thống hành chánh và kỷ luật phải được tái lập, quyền lực và trách nhiệm phải đi đôi với nhau; sự hữu hiệu, sáng kiến, lòng ngay thẳng và tính cần kiệm phải là những tiêu chuẩn để dùng vào việc thăng thưởng, khả năng nghề nghiệp phải được tôn trọng. Phải loại trừ tình trạng ban phát ân huệ bằng vào những liên hệ gia đình hay phe phái. Những kẻ buôn bán quyền hành, tham nhũng và lạm dụng quyền thế phải bị trừng trị.
Có như thế thì mọi chuyện vẫn còn có thể cứu vãn được, nhân phẩm còn có thể phục hồi, và có thể dựng lại niềm tin vào một chính quyền thành thật và công bình.
VỀ QUÂN ĐỘI
Quân đội viễn chinh đã ra khỏi nước và một quân đội Cộng Hòa đã được thành lập; nhờ vào viện trợ Hoa Kỳ quân đội này đã được trang bị với quân trang quân cụ tối tân. Tuy nhiên ngay cả trong lực lượng thanh niên kiêu hãnh như Quân đội Việt Nam – nơi mà đáng lý tinh thần danh dự phải được vun xới, gồm những kẻ mà bầu nhiệt huyết và những cánh tay phải được tận dụng vào việc bảo vệ quốc gia, nơi mà đáng lẽ phải vắng bóng đầu óc phe phái – thì tinh thần “Phong trào Cách mạng Quốc gia” hoặc tinh thần “Nhân vị” đã chia rẽ những kẻ cùng chung một đơn vị, gây ngờ vực giữa những bạn đồng ngũ đồng cấp và lấy “sự trung thành với một đảng để tùng phục mù quáng những kẻ lãnh đạo đảng” làm tiêu chuẩn thăng thưởng. Điều này đã tạo ra những điều kiện cực kỳ nguy hiểm, như trong vụ vừa xảy ra ở Tây Ninh. (Bernard Fall ghi chú: Vụ sư đoàn 21 bị Việt Cộng tấn công đầu năm 1960).
Nhiệm vụ của quân đội, rường cột của việc bảo vệ quê hương, là chận đứng những cuộc ngoại xâm và tiêu diệt các phong trào nổi loạn. Quân đội chỉ phục vụ quốc gia và không nên để cho một phe nhóm hay đảng phái nào lợi dụng. Việc cải tổ toàn diện quân đội là một điều cần thiết. Đầu óc phe phái và sự trung thành với một đảng phải được loại bỏ; tinh thần quân đội phải được tái phục hồi cho mạnh lên, phải tạo ra một truyền thống cao đẹp về niềm hãnh diện quốc gia; và tinh thần chiến đấu, lương tâm nghề nghiệp và lòng can trường phải là những tiêu chuẩn dùng trong việc thăng thưởng. Phải khuyến khích binh sỹ biết kính trọng cấp trên và phải khuyến khích sĩ quan phải biết yêu thương binh sĩ. Phải loại bỏ lòng ngờ vực, ganh tỵ và đố kỵ giữa những kẻ đồng đội, đồng ngũ.
Có như thế, gặp thời nguy biến quốc gia sẽ có được một quân đội hào hùng thúc đẩy bởi một tinh thần và có cùng một lý tưởng: bảo vệ cho cái sở hữu chúng ta: quê hương Việt Nam.
VỀ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
Một xứ sở giàu có và phì nhiêu với thực phẩm dư thừa, một ngân sách không cần phải đối phó với những chi phí Quốc phòng, (chi phí Quốc phòng của miền Nam Việt Nam do kinh viện và quân viện của Hoa Kỳ đài thọ: ghi nhận thêm của Bernard Fall) những ngân khoản bồi thường chiến tranh lớn lao, mức lời cao đẻ ra từ công khố phiếu quốc gia, một chương trình ngoại viện khổng lồ, một thị trường bành trướng và đủ sức nhận vốn đầu tư của ngoại quốc. Đó là nhiều điều kiện thuận lợi có thể biến Việt Nam thành một quốc gia sản xuất cao và thịnh vượng. Thế mà hiện nay nhiều người không có việc để làm, không có nhà để ở và không có tiền bạc. Gạo nhiều nhưng bán không được, các tiệm đầy hàng mà hàng hóa lại không di chuyển – nguồn lợi nằm trong tay những kẻ đầu cơ, dùng phe nhóm, đoàn thể của chính quyền để che dấu việc buôn bán độc quyền đem lợi về cho một thiểu số tư nhân. Trong lúc đó, hằng ngàn dân bị huy động đi làm việc cực nhọc, bị ép buộc phải rời bỏ công ăn việc làm, nhà cửa gia đình của mình để tham gia vào công tác xây dựng những “Khu Dinh Điền” tuy đồ sộ nhưng vô ích. Điều này làm họ mỏi mệt và mất thiện cảm với chính quyền càng làm cho mối bất mãn thêm trầm trọng và tạo một môi trường lý tưởng cho công tác tuyên truyền của địch.
Kinh tế là nền móng của xã hội và lòng dân là yếu tố sống còn của chế độ. Chính quyền phải phá tan mọi chướng ngại cản trở việc mở mang kinh tế. Phải hủy bỏ sự độc quyền và đầu cơ dưới mọi hình thức; phải tạo môi trường thuận tiện cho việc đầu tư đến từ phía các quốc gia thân hữu cũng như từ chính nhân dân của ta; phải khuyến khích kinh doanh thương mại, khuếch trương kỹ nghệ và tạo công ăn việc làm để giảm thiểu tình trạng thất nghiệp. Đồng thời, chính quyền phải chấm dứt sự bóc lột con người dưới mọi hình thức trong các công trường lao động của những “Khu Dinh Điền”.
Có thế nền kinh tế mới lại phát triển, người dân mới tìm lại được cuộc sống an bình và mới được thụ hưởng đời sống của mình, xã hội mới được tái thiết trong một bầu không khí tự do và dân chủ.
Thưa Tổng thống, có lẽ đây là lần đầu tiên Tổng thống mới được nghe lời phê bình gắt gao và khó chịu ngược lại với ý muốn của Tổng thống. Tuy nhiên, thưa Tổng thống, những lời trình bày ở đây là sự thật hoàn toàn, một sự thật cay đắng nặng nề mà Tổng thống chưa bao giờ biết được vì dù vô tình hay chủ ý, một khoảng trống quanh Tổng thống đã được tạo ra và chính vì cái địa vị cao cả của Tổng thống mà không ai để cho Tổng thống nhận ra được thời kỳ nghiêm trọng khi mà sự thật sẽ tràn tới như những làn sóng căm hờn không cưỡng nổi, sự căm hờn của nhân dân đã từ rất lâu phải nhận chịu sự đau khổ khủng khiếp đến một lúc sẽ vùng lên bẻ gẫy những ràng buộc từng cột chặt mình, đè mình xuống. Làn sóng này sẽ quét sạch sự ô nhục và bất công vốn bao quanh người dân đã áp bức họ.
Vì chúng tôi hoàn toàn thành thật không muốn thấy Quê Cha Đất Tổ phải trải chịu những ngày tháng hiểm nghèo đó nên chúng tôi – không kể đến những hậu quả do hành động của chúng tôi sẽ mang lại cho chúng tôi – hôm nay gióng lên tiếng chuông báo động trước mối nguy cơ cấp thiết đang đe dọa chính quyền.
Cho đến nay, chúng tôi đã giữ im lặng và để cho chính quyền mặc ý hành động. Nhưng bây giờ đã đến lúc khẩn thiết, chúng tôi cảm thấy rằng bổn phận của chúng tôi – và trong lúc nước nhà gặp cảnh rối loạn thì ngay cả những kẻ hèn kém nhất cũng phải chia xẻ bổn phận này – là phải nói lên sự thật, thức tỉnh dư luận, báo động với nhân dân, và liên kết những kẻ đối lập, để cho thấy lối thoát.
Chúng tôi thỉnh cầu chính quyền gấp thay đổi chính sách để cứu vãn tình thế, bảo vệ chế độ Cộng Hòa và bảo vệ sự sống còn của quốc gia. Chúng tôi giữ vững niềm hy vọng là dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai sáng lạn để được hưởng thanh bình và thịnh vượng trong Tự Do và Tiến Bộ.
Trân trọng

Nhìn Về Nơi Đó!

Nhìn Về Nơi Đó!

Hãy nhìn về nơi đó con à
Ở bên kia bờ Thái Bình Dương
Có một xứ sở còn hoang dã
Triền miên trong khói lửa đau thương!

Một dân tộc vẫn còn lạc hậu
Lầm than đói khổ đã lâu rồi
Chưa một lần người dân tự chủ
Hết Tàu tới Tây, cứ tôi đòi!

Một ngàn năm rồi một trăm năm
Điêu tàn lại tiếp nối điêu tàn
Đất nước đang bên bờ vực thẳm
Thù trong giặc ngoài vẫn không màng!

Bọn lãnh đạo múa may quay cuồng
Hoang tưởng vong bản loài phường tuồng
Cộng phỉ thô bỉ vô nhân tính
Mà người dân kiên nhẫn phi thường!

Năm nào cũng giảm nghèo cứu đói
Mười hai tỷ kiều hối mỗi năm
Bốn chục năm rồi vẫn đen tối
Ngoan ngoản cúi đầu, buồn xa xăm!

Nơi đó là đất nước Việt Nam
Tổ tiên ông bà con ở đó
Một dân tộc có bốn ngàn năm
Một ngày bình yên thôi, Không Có!

Nông Dân Nam Bộ

Inline image

Mơ Thành Người Quang Trung

Mơ Thành Người Quang Trung

Cũng hận thù chia rẽ Bắc Nam
Cũng thù trong giặc ngoài lầm than
Cũng Việt gian tội đồ dân tộc
Cũng kẻ thù truyền kiếp ngàn năm!

Đánh đuổi Tàu – dẹp Bắc – bình Nam
Giang san gấm vóc gom một mối
Một trang sử mới đã sang trang
Chấm dứt một thời kỳ đen tối!

Nhưng đã qua rồi bao thế hệ
Có mấy ai nhắc đến Nguyển Huệ
Người Anh Hùng Áo Vải Tây Sơn
Tuổi trẻ cần mở mang trí tuệ!

Làm sao mơ thành Người Quang Trung
Khi hàng ngày ra rả Mác Lê- nin
Học tập tư tưởng Mao chủ tịt
Noi gương đạo đức Hồ Chí Minh!

Chỉ Mơ Thôi, Chỉ Mơ Ước Thôi
Cũng Đủ Nghị Lực Cứu Nước Tôi
Mơ Thành Người Quang Trung Nguyễn Huệ
Tuổi Trẻ Yêu Nước Việt Nam Ơi!

Nông Dân Nam Bộ

Bò Liếm!

Bò Liếm!

Kể từ ngày Hoàng Sa nó chiếm
Cái lưởi bò nó liếm nước ta
Miền Nam cay đắng xót xa
Vùng trời biển đảo của ta bao đời!

Nó bày trò lưởi bò chín đoạn
Lũ rợ Hồ đành đoạn nín thinh
Hèn hạ nhục nhã đáng khinh
Ôm hôn Tàu khựa, tôn vinh quan thầy!

Nông Dân Nam Bộ

Sự tích “đường lưỡi bò” hoang đường của TQ

Ngày nào

Ngày nào

Ngày nào còn cộng sản
Làm cha trên quê ta
Thì đừng nên hoang tưởng
Ta cất cánh bay xa

Ngày nào còn mê sảng
Còn thờ ơ làm thinh
Thì đừng nên vọng tưởng
Ta no ấm văn minh

Ngày nào bọn súc sinh
Hậu duệ Hồ Chí Minh
Chưa bị ta quét sạch
Thì còn bị rẻ khinh

Ngày nào chưa biết nhục
Còn đui mù tiếp tục
Theo liếm gót Nga Hoa
Nước ta là địa ngục

Ngày mất nước không xa!

Nông Dân Nam Bộ